Xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng không xa lạ, phát triển như tiện ích bất động sản vinpearl. Nhưng các chất thải công nghiệp như tro, xỉ, thạch cao là một tài nguyên, một loại "lương khô" của ngành xây dựng nếu doanh nghiệp biết sử dụng hợp lý.
Tài nguyên bị bỏ quên
Việt Nam hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với
tổng công suất 13.110 MW. Hàng năm, các nhà máy nhiệt điện này thải ra một khối
lượng tro xỉ khoảng 15,8 triệu tấn. Tổng lượng tro, xỉ, thạch cao đang tồn tại
các bãi chứa lũy kế đến nay là khoảng hơn 20 triệu tấn.
Theo tính toán của Viện Kinh tế xây dựng (Bộ Xây dựng), một nhà
máy nhiệt điện công suất 1.200 MW vận hành trong 5 năm cần 30 ha để chôn lấp 5
triệu tấn tro xỉ. Trong đó, riêng 2 nhà máy nhiệt điện than là Duyên Hải 1 và
Duyên Hải 3 (đồng bằng Sông Cửu Long), phải dành ra 31 ha đất cho bãi chôn lấp
và chỉ trong 2,5 năm sẽ chứa đầy bãi thải nếu không có giải pháp xử lý.
Với công suất của các nhà máy nhiệt điện than tại khu vực đồng
bằng Sông Cửu Long đến năm 2020, cần đến 360 ha đất để xử lý chất thải và đến
năm 2030, phải cần đến hàng ngàn héc-ta đất. Còn với cả nước, để có thể chứa
hết phế thải do các nhà máy nhiệt điện than thải ra, theo quy hoạch cần khoảng
600.000 ha, tức là 4 năm thì mất diện tích của một xã trung bình. Nguy cơ các nhà
máy phải dừng sản xuất do không có đủ bãi chứa là một thực tế đang hiện hữu.
Phát biểu tại Hội nghị Vật liệu Xây dựng toàn quốc 2017, Phó thủ
tướng Trịnh Đình Dũng lo ngại: “Thực tế cho thấy, nhiều nơi vẫn phát triển vật
liệu nung khiến nhiều nhà máy sản xuất vật liệu từ tro, xỉ có nguy cơ đóng cửa.
Các nhà máy nhiệt điện cũng bị ảnh hưởng do không còn chỗ chứa chất thải”.
Không chỉ gây nguy hại cho môi trường, chi phí chôn lấp tro, xỉ
cũng tạo nên sự lãng phí lớn. Hiện nay, chi phí tiền sử dụng đất và chi phí làm
bãi chôn lấp bao gồm bờ bao, san ủi… ước khoảng 1 triệu đồng/m2; chi phí xử lý
tro, xỉ, vận hành bãi chôn lấp khoảng 120.000 đồng/tấn chất thải. Như vậy, với
lượng thải như trên, chi phí cho việc này tốn cả nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Lời giải đến từ vùng nóng
Ước tính, ở Việt Nam, lượng tro, xỉ được sử dụng làm vật liệu
xây dựng mới chỉ đạt khoảng 10%, còn lại là chôn lấp, trong khi tỷ lệ này ở các
quốc gia khác đạt khoảng 80 - 90%.
Chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Hải Hà, Trưởng ban Kỹ thuật
sản xuất, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết: “Theo tôi, trong số các
giải pháp thúc đẩy sử dụng vật liệu mới thay thế, Bộ Xây dựng cần sớm ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn hướng dẫn, định mức kinh tế kỹ thuật
quy định việc xử lý, sử dụng tro, xỉ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây
dựng, sử dụng trong các công trình xây dựng, giao thông san lấp mặt bằng. Có
quy định bắt buộc các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải sử
dụng các sản phẩm tái sử dụng tro, xỉ, thạch cao như gạch không nung, xi
măng…”.
Đặc biệt, theo ông Hà, cần tăng cường tuyên truyền để người dân
và doanh nghiệp hiểu đúng về các loại vật liệu này, coi nó như là các vật liệu
thông thường, đủ tiêu chuẩn, an toàn, tránh tâm lý nghĩ rằng đó là các loại vật
liệu độc hại, dẫn đến tâm lý e ngại khi sử dụng.
Trong các khu vực có nhiều áp lực về xử lý tro, xỉ từ các nhà
máy điện, đồng bằng Sông Cửu Long là một điểm nóng. Trong khi đó, theo Bộ Giao
thông - Vận tải, hiện khu vực này đang triển khai nhiều dự án trọng điểm kết
nối giao thông liên vùng với 26 dự án được đầu tư, tổng vốn khoảng 88.910 tỷ
đồng. Bên cạnh đó, còn có 27 dự án quan trọng cấp bách dự kiến triển khai giai
đoạn 2017 - 2020 với tổng kinh phí khoảng 67.000 tỷ đồng.
Theo kết quả thẩm định và đánh giá kết quả đầu tư xây dựng, suất
vốn đầu tư xây dựng của một số công trình công cộng và giao thông tại vùng đồng
bằng Sông Cửu Long cao hơn nhiều so với suất vốn đầu tư bình quân của cả nước
do địa thế vùng có nhiều kênh rạch, địa chất phức tạp, nền đất rất yếu, nên để
triển khai xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn phải tăng thêm
nhiều chi phí để xử lý. Trong khi đó, nguồn vật liệu xây dựng khan hiếm, không
có sẵn để khai thác tại chỗ, mà phải vận chuyển chủ yếu bằng đường thủy từ các
vùng khác đến nên chi phí đầu tư là rất lớn.
Do đó, việc nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng công trình bằng
cách giảm chi phí vật liệu xây dựng khoảng 3 - 5%, góp phần tiết kiệm cho ngân
sách hàng nghìn tỷ đồng là nằm trong tầm tay nếu tận dụng tốt nguồn tro, xỉ
đang dồn ứ tại các nhà máy điện.
Và từ thực tiễn triển khai
Đại diện Công ty cổ phần Gạch Khang Minh cho biết, đơn vị này đã
khắc phục được nhiều hạn chế của loại gạch xi măng cốt liệu khi sử dụng xỉ của
các nhà máy nhiệt điện trong phối trộn nguyên vật liệu, làm tăng khả năng điền
đầy các khe rỗng trong cốt liệu sản phẩm, giúp cho gạch xi măng cốt liệu có khả
năng chống thấm tốt hơn rất nhiều so với sản phẩm cũ.
Ngoài ra, đơn vị này còn sử dụng công nghệ sản xuất ướt, thay
thế công nghệ rung ép thuỷ lực, sản xuất khô tốn nhiều xi măng. Việc trộn ướt
nguyên liệu giúp xi măng thuỷ hoá tốt, tăng khả năng chống thấm và tiết kiệm xi
măng (hơn 2%) so với công nghệ sản xuất thông thường.
Còn với sản phẩm cát nhân tạo, ông Vũ Đình Kiên, Giám đốc Công
ty cổ phần Thiên Nam cho biết, sau khi khảo sát, nghiên cứu chất thải rắn tại
bãi thải Đông Cao Sơn của Công ty cổ phần Than Cọc Sáu, với lượng chất thải rắn
hàng năm vào khoảng từ 32 - 36 triệu m3, trong đó tỷ lệ đá kết đạt khoảng 35%,
đơn vị này đã đầu tư công nghệ và lập dự án thu hồi, tái chế, chế biến chất
thải rắn từ đá kết thành cát nghiền nhân tạo cho bê tông và vữa. Hiện nay, mỗi
năm Thiên Nam cung cấp ra thị trường 1.890.000 m3 cát nhân tạo.
Theo ông Kiên, công đoạn nghiền cát và rửa cát quyết định lớn
đến chất lượng cát nghiền do va chạm ở tốc độ cao làm các hạt đá trong máy
nghiền vỡ ra tròn đều. Đặc tính này giúp bê tông có cường độ cao, tăng độ bền.
Còn theo ông Kiều Văn Mát, Chủ tịch HĐQT CTCP Sông Đà Cao Cường,
để khuyến khích vật liệu không nung phát triển, ngoài việc chính thức hóa việc
sử dụng vật liệu không nung bằng các quy phạm pháp luật, cần giảm thuế VAT từ
10% xuống còn 5% đối với gạch không nung, tăng từ 10% lên 20% với gạch đỏ. Tăng
thuế đất làm gạch nung từ 13% lên 25% (tương đương các nước trong khu vực).
Đặc biệt, cần có biện pháp quản lý, tránh trường hợp chủ lò gạch
bán gạch cho tư nhân không xuất hóa đơn, trốn thuế đất, thuế VAT và thuế thu
nhập doanh nghiệp, bởi dù đây là các cơ sở nhỏ lẻ nhưng lại chiếm số lượng rất
đông đảo.

0 bình luận
Gửi ý kiến của bạn